Thị trường hàng hóa

  • Vàng 1,890.45 -0.25 -0.01%
  • XAU/USD 1,878.81 +3.30 +0.18%
  • Bạc 22.395 -0.025 -0.11%
  • Đồng 4.0575 +0.0100 +0.25%
  • Platin 979.70 +2.50 +0.26%
  • Paladi 1,638.03 +4.53 +0.28%
  • Dầu Thô WTI 78.33 -0.14 -0.18%
  • Dầu Brent 84.94 -0.15 -0.18%
  • Khí Tự nhiên 2.425 +0.012 +0.50%
  • Dầu Nhiên liệu 2.8965 -0.0029 -0.10%
  • Xăng RBOB 2.4697 +0.0069 +0.28%
  • Dầu khí London 838.75 -2.38 -0.28%
  • Nhôm 2,487.00 -37.50 -1.49%
  • Kẽm 3,143.00 +6.50 +0.21%
  • Ni-ken 27,420.50 +172.50 +0.63%
  • Copper 8,918.50 -6.50 -0.07%
  • Lúa mì Hoa Kỳ 762.50 -2.50 -0.33%
  • Thóc 17.855 -0.045 -0.25%
  • Bắp Hoa Kỳ 676.60 -1.90 -0.28%
  • Đậu nành Hoa Kỳ 1,512.62 -7.13 -0.47%
  • Dầu Đậu nành Hoa Kỳ 60.34 -0.21 -0.35%
  • Khô Đậu nành Hoa Kỳ 479.90 -1.80 -0.37%
  • Cotton Hoa Kỳ loại 2 85.15 -0.28 -0.33%
  • Ca Cao Hoa Kỳ 2,577.00 -4.00 -0.15%
  • Cà phê Hoa Kỳ loại C 176.30 -0.75 -0.42%
  • Cà phê London 2,063.00 0.00 0.00%
  • Đường Hoa Kỳ loại 11 21.17 +0.33 +1.58%
  • Nước Cam 257.53 +8.63 +3.47%
  • Bê 160.88 +0.30 +0.19%
  • Heo nạc 76.13 +0.75 +1.00%
  • Bê đực non 186.53 -1.17 -0.62%
  • Gỗ 452.40 -17.10 -3.64%
  • Yến mạch 377.30 -0.20 -0.05%
07:20 15/01/2023

Giá cà phê hôm nay, 15/1: Giá cà phê trong nước cao nhất 41.000 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay 15/1 ở khu vực Tây Nguyên tiếp đà tăng mạnh, tăng 600 đồng/kg, hiện dao động từ 40.400 đồng – 41.000 đồng/kg.

Giá cà phê trong nước hôm nay 15/1 tiếp đà tăng, tăng mạnh 600 đồng/kg so với hôm qua. Hiện cà phê nhân xô (cà phê nhân, cà phê nhân tươi) tại tỉnh Lâm Đồng ở các huyện như Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà được thu mua với giá từ 40.300– 40.400 đồng/kg.

Giá cà phê tại tỉnh Kon Tum, tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Đắk Nông hôm nay là 41.000 đồng/kg. Riêng tại tỉnh Gia Lai cà phê được thu mua với giá cao nhất là 40.900 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay dao động từ 40.400 đồng – 41.000 đồng/kg.

Đối với giá cà phê thế giới, trên hai sàn London và New York tiếp đà tăng khi thị trường suy đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chỉ tăng lãi suất điều hành lên thêm 0,25% tại phiên họp chính sách giữa tháng Hai. Điều này đã hỗ trợ tâm trạng tốt trên toàn cầu cùng với việc nền kinh tế Trung Quốc mở cửa trở lại đã thúc đẩy các Quỹ đầu cơ hàng hóa quay lại tăng mua.

Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta trên sàn London nối tiếp chiều tăng. Kỳ hạn giao ngay tháng 3 tăng 35 USD, lên 1.916 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 5 tăng 32 USD, lên 1.879 USD/tấn, các mức tăng khá mạnh. Khối lượng giao dịch duy trì rất cao trên mức trung bình.

Tương tự, giá cà phê Arabica trên sàn New York cùng xu hướng tăng. Kỳ hạn giao ngay tháng 3 tăng 2,30 cent, lên 151,7 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 5 tăng 2,40 cent, lên 152,55 cent/lb, các mức tăng rất đáng kể. Khối lượng giao dịch duy trì rất cao trên mức trung bình.

Sản lượng cà phê toàn cầu dự báo tăng 6,6 triệu bao so với niên vụ trước lên 172,8 triệu bao trong niên vụ 2022-2023. Ảnh: Shutterstock

Về ngành cà phê Việt Nam. theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 12 vừa qua, cả nước ta đã xuất khẩu hơn 197 nghìn tấn cà phê, trị giá 425,1 triệu USD; tăng mạnh 53,5% về lượng và 39,7% về giá trị so với tháng 11/2022. Như vậy, luỹ kế trong cả năm 2022, Việt Nam đã xuất khẩu 1,77 triệu tấn cà phê các loại với tổng kim ngạch đạt trên 4 tỷ USD, vượt kế hoạch mục tiêu đề ra. So với cả năm 2021, xuất khẩu cà phê cũng đã tăng ấn tượng 13,8% về lượng và 32% về kim ngạch.

Sản lượng của Việt Nam, nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới được dự báo đạt 30,2 triệu bao trong niên vụ 2022-2023, giảm 1,4 triệu bao so với vụ thu hoạch kỷ lục trước đó. Diện tích sản xuất của Việt Nam nhìn chung không thay đổi với hơn 95% sản lượng vẫn là cà phê robusta.

Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong niên vụ 2022 - 2023 cũng được dự báo sẽ giảm 1,5 triệu bao, xuống còn 24,5 triệu bao do nguồn cung thấp hơn và tồn kho cuối vụ dự kiến giảm 200.000 bao xuống còn 3,1 triệu bao.

Đọc thêm

Xem thêm