Thị trường hàng hóa

  • Vàng 1,893.85 +3.15 +0.17%
  • XAU/USD 1,882.15 +6.64 +0.35%
  • Bạc 22.435 +0.015 +0.07%
  • Đồng 4.0865 +0.0510 +1.26%
  • Platin 976.90 -10.30 -1.04%
  • Paladi 1,626.00 -9.90 -0.61%
  • Dầu Thô WTI 78.24 -0.23 -0.29%
  • Dầu Brent 84.86 -0.23 -0.27%
  • Khí Tự nhiên 2.369 -0.027 -1.13%
  • Dầu Nhiên liệu 2.8527 -0.0406 -1.40%
  • Xăng RBOB 2.4446 -0.0182 -0.74%
  • Dầu khí London 824.63 -16.50 -1.96%
  • Nhôm 2,466.50 -14.50 -0.58%
  • Kẽm 3,152.50 +20.50 +0.65%
  • Ni-ken 27,300.00 -90.00 -0.33%
  • Copper 9,000.00 +107.50 +1.21%
  • Lúa mì Hoa Kỳ 768.30 +3.30 +0.43%
  • Thóc 17.855 -0.045 -0.25%
  • Bắp Hoa Kỳ 678.88 +1.88 +0.28%
  • Đậu nành Hoa Kỳ 1,529.00 +10.00 +0.66%
  • Dầu Đậu nành Hoa Kỳ 60.67 +0.09 +0.15%
  • Khô Đậu nành Hoa Kỳ 486.10 +4.20 +0.87%
  • Cotton Hoa Kỳ loại 2 85.83 +0.46 +0.54%
  • Ca Cao Hoa Kỳ 2,553.00 -26.00 -1.01%
  • Cà phê Hoa Kỳ loại C 174.73 -0.87 -0.50%
  • Cà phê London 2,046.00 -17.00 -0.82%
  • Đường Hoa Kỳ loại 11 21.38 +0.18 +0.85%
  • Nước Cam 257.53 +8.63 +3.47%
  • Bê 160.88 +0.30 +0.19%
  • Heo nạc 76.13 +0.75 +1.00%
  • Bê đực non 186.53 -1.17 -0.62%
  • Gỗ 452.40 -17.10 -3.64%
  • Yến mạch 377.30 -0.20 -0.05%
07:30 14/01/2023

Giá cà phê hôm nay, 14/1: Giá cà phê trong nước tăng mạnh, vượt mốc 40.000 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay 14/1 ở khu vực Tây Nguyên tăng mạnh 1.400 đồng/kg sau nhiều ngày giảm, hiện dao động từ 39.800 đồng – 40.400 đồng/kg.

Giá cà phê trong nước hôm nay 14/1 tăng mạnh từ 1.300 - 1.400 đồng/kg so với hôm qua. Hiện cà phê nhân xô (cà phê nhân, cà phê nhân tươi) tại tỉnh Lâm Đồng ở các huyện như Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà được thu mua với giá từ 39.700– 39.800 đồng/kg.

Giá cà phê tại tỉnh Đắk Nông và tỉnh Gia Lai, hôm nay là 40.300 đồng/kg. Riêng tại tỉnh Kon Tum, tỉnh Đắk Lắk, cà phê được thu mua với giá cao nhất là 40.400 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay 14/1 dao động ở mức 39.800 - 40.400 đồng/kg

Đối với giá cà phê thế giới, trên hai sàn London và New York tiếp tục tăng mạnh.

Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta trên sàn London nối tiếp chiều tăng. Kỳ hạn giao ngay tháng 3 tăng 70 USD, lên 1.881 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 5 tăng 67 USD, lên 1.847 USD/tấn, các mức tăng cực mạnh, hiếm thấy. Khối lượng giao dịch rất cao trên mức trung bình.

Tương tự, giá cà phê Arabica trên sàn New York cùng xu hướng tăng. Kỳ hạn giao ngay tháng 3 tăng 5,50 cent, lên 149,40 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 5 tăng 5,45 cent, lên 150,15 cent/lb, các mức tăng rất mạnh. Khối lượng giao dịch rất cao trên mức trung bình.

Theo thống kê của Tổng Cục Hải quan Việt Nam, luỹ kế trong cả năm 2022, Việt Nam đã xuất khẩu 1,77 triệu tấn cà phê các loại với tổng kim ngạch đạt trên 4 tỷ USD, vượt kế hoạch mục tiêu đề ra. So với cả năm 2021, xuất khẩu cà phê cũng đã tăng ấn tượng 13,8% về lượng và 32% về kim ngạch.

Xuất khẩu cà phê năm 2022 của Việt Nam tăng ấn tượng

Trong năm 2023 được dự báo sẽ tiếp tục có nhiều khó khăn hiện hữu chờ đón. Cuộc chiến Nga – Ukraine chưa có hồi kết trong khi dính líu (gián tiếp và trực tiếp) của Mỹ và châu Âu vào cuộc chiến này càng càng rõ.

Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tuyên bố đến năm 2024 sẽ dừng tăng lãi suất, tức là dù giảm tần suất và mức tăng nhưng khả năng tăng lãi suất năm 2023 là vẫn có.

Khủng hoảng năng lượng ở Châu Âu chưa có lời giải. Cùng với đó, lạm phát ở khu vực này đang ở mức cao. Khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới được rất nhiều chuyên gia nhận định sẽ xảy ra trong năm 2023 tạo tâm lý tiêu cực cho thị trường.

Xen lẫn những lo ngại nổi bật đó, việc Trung Quốc mở cửa biên giới, dỡ bỏ hoàn toàn các biện pháp cách ly phòng Covid – 19 là tin tích cực cho kỳ vọng các chuỗi cung ứng nguyên liệu, chuỗi sản xuất được nối lại. Tại Việt Nam, thì đây là tín hiệu tốt cho cả du lịch và xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu nông sản.

Đọc thêm

Xem thêm