Thị trường hàng hóa

  • Vàng 1,672.60 +0.60 +0.04%
  • XAU/USD 1,665.43 +4.45 +0.27%
  • Bạc 19.060 +0.021 +0.11%
  • Đồng 3.3810 -0.0075 -0.22%
  • Platin 860.15 +2.75 +0.32%
  • Paladi 2,175.02 +6.02 +0.28%
  • Dầu Thô WTI 81.45 +1.96 +2.47%
  • Dầu Brent 87.24 +1.68 +1.96%
  • Khí Tự nhiên 6.659 -0.167 -2.45%
  • Dầu Nhiên liệu 3.2797 +0.0496 +1.54%
  • Xăng RBOB 2.4166 +0.0427 +1.80%
  • Dầu khí London 1,006.62 +12.62 +1.27%
  • Nhôm 2,155.00 -42.00 -1.91%
  • Kẽm 2,972.00 +42.50 +1.45%
  • Ni-ken 21,327.00 -1021.00 -4.57%
  • Copper 7,507.50 -34.50 -0.46%
  • Lúa mì Hoa Kỳ 932.50 +10.00 +1.08%
  • Thóc 17.168 -0.007 -0.04%
  • Bắp Hoa Kỳ 685.50 +8.00 +1.18%
  • Đậu nành Hoa Kỳ 1,372.50 +6.50 +0.48%
  • Dầu Đậu nành Hoa Kỳ 61.99 +0.43 +0.70%
  • Khô Đậu nành Hoa Kỳ 403.50 +0.70 +0.17%
  • Cotton Hoa Kỳ loại 2 84.83 -0.43 -0.50%
  • Ca Cao Hoa Kỳ 2,347.00 +20.00 +0.86%
  • Cà phê Hoa Kỳ loại C 220.98 -4.72 -2.09%
  • Cà phê London 2,149.00 0.00 0.00%
  • Đường Hoa Kỳ loại 11 17.67 -0.10 -0.56%
  • Nước Cam 194.50 +4.05 +2.13%
  • Bê 143.28 -0.84 -0.58%
  • Heo nạc 89.22 -0.23 -0.26%
  • Bê đực non 174.61 -0.67 -0.38%
  • Gỗ 424.80 +13.90 +3.38%
  • Yến mạch 392.00 +1.00 +0.26%
21:00 05/09/2022

Sản xuất công nghiệp 8 tháng tăng 9,4%

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2022 tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4%.

Công nghiệp phục hồi nhanh

Báo cáo Bộ Công Thương cho thấy, sản xuất công nghiệp trong tháng 8 tiếp tục xu hướng phục hồi nhanh, ước tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 15,6%, tính chung 8 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước.

Ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng khi tăng 10,4%, đóng góp 8,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung của ngành công nghiệp

Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng khi tăng 10,4% (cùng kỳ năm 2021 tăng 7%), đóng góp 8,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,8%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm…

Về sản xuất công nghiệp ở các địa phương, trong 8 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng tại 61 địa phương và chỉ giảm ở 02 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.

Đơn cử như, chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 8 tháng năm 2022 của Bắc Giang tăng 53,9% so với cùng kỳ năm trước; Cần Thơ tăng 28,4%; Khánh Hòa tăng 25,8%; Quảng Nam tăng 25,5%; Vĩnh Long tăng 25,1%; Bến Tre tăng 22,7%. Chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao ở một số địa phương do thủy điện tăng cao như: Đắk Lắk tăng 42,7%; Lai Châu tăng 40,7%; Sơn La tăng 31,3%; Hà Giang tăng 27,4%.

Đáng chú ý, chỉ số sản xuất 8 tháng năm 2022 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất đồ uống tăng 26,8%; sản xuất trang phục tăng 22,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,5%; sản xuất thiết bị điện và sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu cùng tăng 17,4%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 14,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 14,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,4%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 8 tháng năm 2022 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Bia tăng 31,2%; thủy hải sản chế biến tăng 20,7%; linh kiện điện thoại tăng 19,6%; ô tô tăng 13,9%; quần áo mặc thường tăng 12,7%; giày, dép da tăng 12,5%; thuốc lá tăng 9,6%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Sắt, thép thô giảm 12,3%; ti vi giảm 10,7%; phân hỗn hợp NPK giảm 6%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 5,8%...

Giảm gia công lắp ráp, tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo

Đưa ra giải pháp cho phát triển công nghiệp trong thời gian tới, Bộ Công Thương cho biết, sẽ tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo và giảm tỷ trọng gia công, lắp ráp đối với các sản phẩm công nghiệp được sản xuất ở Việt Nam; từng bước tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp để tăng khả năng cạnh tranh, xây dựng hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm nhập khẩu nhằm hỗ trợ sản phẩm trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa...

Cụ thể, Bộ Công Thương chú trọng tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, các địa phương phối hợp với Bộ làm việc và theo dõi chặt chẽ các dự án, ngành hàng lớn và một số địa bàn trọng điểm để nắm bắt tình hình và xử lý, tháo gỡ khó khăn nhằm đẩy mạnh sản xuất, nhất là các nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào, kiểm soát nhập khẩu và chủ động nguồn cung trong nước thay thế cho nguồn nhập khẩu. “Huy động tối đa các nguồn lực, bám sát tình hình và có phương án chuẩn bị trong các trường hợp nhằm đảm bảo cung ứng đủ điện, than, xăng dầu, phân bón… cho sản xuất và sinh hoạt”- báo cáo nêu rõ.

Bên cạnh đó, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm nguồn cung nguyên vật liệu thay thế với giá cả phù hợp để đảm bảo đủ nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng… chuẩn bị cho mùa mua sắm cuối năm. Tập trung hỗ trợ doanh nghiệp khai thác tốt các FTAs đã ký kết để tăng tốc sản xuất, xuất khẩu.

Đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp ổn định sản xuất, bảo đảm cân đối cung cầu các hàng hóa cơ bản, thiết yếu như: xăng dầu, điện, than… Theo dõi sát tình hình sản xuất phân bón trên thế giới để có giải pháp ứng phó phù hợp.

Thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, bám sát tiến độ để sớm đưa vào vận hành các công trình dự án trọng điểm, có vai trò quan trọng trong lĩnh vực điện, dầu khí, công nghiệp chế biến, chế tạo... tạo giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp.

Ngoài ra, các địa phương tạo điều kiện giải phóng mặt bằng những dự án trọng điểm, cấp bách, tạo thuận lợi hóa trong các thủ tục hành chính của các dự án trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại trên địa bàn.

Một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn có tốc độ tăng chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 8/2022 khá so với tháng trước, như: Bắc Ninh tăng 20%; Hải Phòng tăng 7,5%; Bắc Giang tăng 4,5%; Quảng Ngãi tăng 4,4%; Quảng Ninh tăng 4,3%; Vĩnh Phúc tăng 4,2%; Tiền Giang tăng 4,2%; Thái Nguyên tăng 4,1%...

 

Đọc thêm

Xem thêm