Thị trường hàng hóa

  • Vàng 1,671.90 -0.10 -0.01%
  • XAU/USD 1,663.86 +2.88 +0.17%
  • Bạc 19.405 +0.366 +1.92%
  • Đồng 3.3685 -0.0440 -1.29%
  • Platin 862.20 +3.10 +0.36%
  • Paladi 2,206.52 +24.32 +1.11%
  • Dầu Thô WTI 83.20 +3.71 +4.67%
  • Dầu Brent 88.92 +3.78 +4.44%
  • Khí Tự nhiên 6.712 -0.054 -0.80%
  • Dầu Nhiên liệu 3.3494 +0.1278 +3.97%
  • Xăng RBOB 2.4815 +0.1117 +4.71%
  • Dầu khí London 1,031.88 +37.88 +3.81%
  • Nhôm 2,142.50 -19.50 -0.90%
  • Kẽm 2,958.50 -9.50 -0.32%
  • Ni-ken 21,198.00 +91.00 +0.43%
  • Copper 7,447.50 -112.50 -1.49%
  • Lúa mì Hoa Kỳ 935.50 +13.50 +1.46%
  • Thóc 17.180 +0.005 +0.03%
  • Bắp Hoa Kỳ 684.12 +7.12 +1.05%
  • Đậu nành Hoa Kỳ 1,371.38 +6.38 +0.47%
  • Dầu Đậu nành Hoa Kỳ 62.22 +0.66 +1.07%
  • Khô Đậu nành Hoa Kỳ 402.45 -0.55 -0.14%
  • Cotton Hoa Kỳ loại 2 85.61 +0.27 +0.32%
  • Ca Cao Hoa Kỳ 2,375.50 +28.50 +1.21%
  • Cà phê Hoa Kỳ loại C 221.55 +0.57 +0.26%
  • Cà phê London 2,157.00 +8.00 +0.37%
  • Đường Hoa Kỳ loại 11 17.70 +0.03 +0.17%
  • Nước Cam 194.50 +4.05 +2.13%
  • Bê 143.28 -0.84 -0.58%
  • Heo nạc 89.22 -0.23 -0.26%
  • Bê đực non 174.61 -0.67 -0.38%
  • Gỗ 424.80 +13.90 +3.38%
  • Yến mạch 398.50 +7.50 +1.92%
11:05 21/09/2022

Giá thép hôm nay 21/9: Thép thế giới giảm nhẹ

Giá thép hôm nay ngày 21/9 ghi nhận giá thép thế giới quay đầu giảm nhẹ. Thép trong nước vẫn giữ nguyên sau phiên tăng giá thứ ba liên tiếp từ 13/9.

Giá thép thế giới giảm nhẹ

Cụ thể, giá thép hôm nay giao tháng 1/2023 trên Sàn giao dịch Thượng Hải giảm xuống mức 3.705 nhân dân tệ/tấn.

Giá thép thanh vằn tương lai tại Trung Quốc là 3.883 nhân dân tệ/tấn (554 USD/tấn), hạ 0,5% so với ngày trước đó và thấp nhất trong gần một tuần qua.

Về giá giao ngay, giá thép không gỉ ngày là 15.641 nhân dân tệ/tấn (2.232 USD/tấn), giảm 1,2% so với cuối tuần trước và thấp nhất một tuần qua. Trong khi đó, giá thép cuộn cán nguội giữ nguyên với 4.393 nhân dân tệ/tấn. Giá loại thép này ít biến động từ ngày 24/8.

Diễn biến giá thép thanh vằn tương lai tại Trung Quốc. Nguồn: Trading Economics

Thị trường trong nước kỳ vọng phục hồi

Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho biết, trong tháng 8 thị trường thép trong nước ghi nhận sản xuất thép thành phẩm đạt 1,9 triệu tấn, giảm 12% so với tháng 7 và giảm 22% so với cùng kỳ năm 2021.

Bán hàng thép các loại đạt 2,1 triệu tấn, tăng 8% so với tháng trước và tăng 4% với cùng kỳ 2021. Như vậy, bán hàng thép phục hồi nhẹ sau 4 tháng giảm liên tiếp.

Tính chung 8 tháng đầu năm, sản xuất thép thành phẩm đạt 20,8 triệu tấn, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2021. Bán hàng thép thành phẩm đạt 19,2 triệu tấn, giảm 2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó, xuất khẩu thép đạt 4,5 triệu tấn, giảm 7%.

Trong khi bán hàng thép xây dựng và ống thép tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm 2021, thì bán hàng HRC, thép cán nguội, tôn mạ kim loại và sơn phủ màu lại đi xuống.

Cụ thể 8 tháng đầu năm, bán hàng thép xây dựng đạt 8,7 triệu tấn, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2021 và chiếm gần 46% tiêu thụ thép cả nước. Trong đó, xuất khẩu đạt 1,7 triệu tấn, tăng 31,5%.

Tương tự, bán hàng ống thép cũng tăng nhẹ 7% so với cùng kỳ năm 2021 với 1,7 triệu tấn, chiếm 9% tiêu thụ thép.

Ở chiều ngược lại, bán hàng HRC chỉ 4,3 triệu tấn, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 22% tiêu thụ thép. Trong đó, xuất khẩu mặt hàng này lao dốc 21%, còn hơn 730 nghìn tấn.

Tương tự, mặt hàng thép cán nguội cũng ghi nhận lượng bán hàng giảm 7%, xuống còn 1,5 triệu tấn, chiếm 8% tiêu thụ thép. Riêng xuất khẩu thép cán nguội đạt 395 nghìn tấn, giảm 8%.

Một mặt hàng khác cũng ghi nhận lượng bán hàng giảm mạnh là tôn mạ kim loại và sơn phủ màu. Theo đó, bán hàng tôn mạ đạt 2,9 triệu tấn, giảm 14% so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 15% tiêu thụ thép. Riêng xuất khẩu tôn mạ giảm tới 26%, còn 1,5 triệu tấn.

Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam Nghiêm Xuân Đa đánh giá, thị trường thép Việt Nam những tháng cuối năm sẽ có những tín hiệu phục hồi sau khi trải qua một giai đoạn khó từ 11/5 đến hết tháng 8 vừa qua.

Bên cạnh đó, dự báo nguồn cung bất động sản hồi phục và chính sách đẩy mạnh đầu tư công sẽ là động lực lớan giúp thúc đẩy sản lượng tiêu thụ thép. Nhu cầu thép xây dựng kỳ vọng sẽ sớm phục hồi khi giải ngân vốn đầu tư công của Việt Nam tăng tốc từ cuối năm sau khi kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021-2025 hoàn thành giai đoạn phê duyệt thủ tục.

Thực tế, thị trường thép đang chờ đợi những tín hiệu tích cực trong quý IV bởi theo thông lệ đây là giai đoạn nhu cầu thép tăng lên khi các công trình xây dựng gấp rút đẩy mạnh tiến độ.

Tuy nhiên, Hiệp hội Thép Việt Nam cho rằng việc nhu cầu quý IV có thể tăng hay không vẫn còn phụ thuộc nhiều yếu tố, nhất là khi tồn kho vẫn còn cao, các nhà sản xuất cần thời gian để xử lý.

Giá thép trong nước ổn định sau phiên tăng thứ ba liên tiếp

 

Bảng giá thép Hòa Phát 3 miền

Thép trong nước hôm nay ngày 19/9 vẫn giữ ổn định sau phiên tăng thứ ba liên tiếp từ 31/8, tăng mạnh nhất gần 900.000 đồng/tấn.

Tổng mức tăng của giá thép sau 3 lần liên tiếp từ 31/8 đến nay là hơn 2 triệu đồng/tấn.

Theo đó, thép Việt Nhật tăng lần lượt 880.000 đồng/tấn và 470.000 đồng/tấn đối với thép cuộn CB240 và thép thanh vằn D10 CB300. Sau điều chỉnh, giá hai loại thép này lần lượt là 15,02 triệu đồng/tấn và 15,22 triệu đồng/tấn.

Tại khu vực miền Bắc, thép Hòa Phát điều chỉnh tăng 400.000 đồng/tấn đối với thép cuộn CB240, còn thép thanh vằn D10 CB300 giữ nguyên với 15,12 triệu đồng/tấn. Sau điều chỉnh, giá CB240 là 14,82 triệu đồng/tấn.

Với thép Việt Ý, CB240 và D10 CB300 lần lượt tăng 400.000 đồng/tấn và 110.000 đồng/tấn lên 15,12 triệu đồng/tấn và 15,33 triệu đồng/tấn. Về thép Việt Đức, hai loại thép trên tăng 400.000 đồng/tấn và 200.000 đồng/tấn lên 15,12 triệu đồng/tấn và 15,63 triệu đồng/tấn.

Với thép Kyoei, giá CB240 và D10 CB300 theo thứ tự là 15,12 triệu đồng/tấn và 15,38 triệu đồng/tấn sau khi tăng lần lượt 480.000 đồng/tấn và 130.000 đồng/tấn.

Với thép Miền Nam, giá CB240 và D10 CB300 theo thứ tự là 15,43 triệu đồng/tấn và 15,83 triệu đồng/tấn sau khi lần lượt tăng 410.000 đồng/tấn và 200.000 đồng/tấn.

Về thép Thái Nguyên, hai loại trên là 15,2 triệu đồng/tấn và 15,66 triệu đồng/tấn sau khi tăng 580.000 đồng/tấn và 490.000 đồng/tấn.

Đọc thêm

Xem thêm